Tư Vấn Đầu Tư - Tư Vấn Luật - Cố Vấn Doanh Nghiệp - Thủ tục Xin Các Loại Giấy Phép Trong Kinh Doanh, Nhà Đất - Bào Chữa - Giải Quyết Tranh Chấp - Tái Cấu Trúc Doanh Nghiệp - Đầu Tư Trang Trại.  Tìm kiếm: Tiếng việt    English
Hướng dẫn 25.09.2011

 

 

 KHÁI NIỆM DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

VÀ QUY ĐỊNH CỦA LUẬT DOANH NGHIỆP NĂM 2005 TẠI VIỆT NAM

 

Như đã đề cập, DNNN đã tồn tại phổ biến từ lâu trong nền kinh tế nước ta. Tuy vậy, mãi tới năm 1995, mới có những nỗ lực đầu tiên để “công ty hóa” về mặt ý niệm đối với DNNN. Cụ thể là, theo Luật Doanh nghiệp nhà nước (1995), DNNN là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao. Cũng theo luật này, DNNN nước tồn tại dưới các hình thức: doanh nghiệp độc lập, tổng công ty, doanh nghiệp thành viên của tổng công ty. Và theo Luật Doanh nghiệp nhà nước (2003), DNNN là tổ chức kinh tế do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, phấn góp vốn chi phối được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn.

So sánh khái niệm “doanh nghiệp nhà nước” theo LDN 1995, với khái niệm DNNN nước theo LDN 2003 thì có một số thay đổi như sau: (i) có nọi dung rộng hơn, bao gồm không chỉ doanh nghiệp 100% sở hữu nhà nước, mà cả doanh nghiệp nhà nước nắm cổ phần hay có phần góp vốn chi phối; (ii) loại hình doanh nghiệp cũng đa dạng hơn, bao gồm cả công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần; (iii) không xác định mục tiêu cụ thể của DNNN là thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao; (iv) và cuối cùng là, không còn khái niệm doanh nghiệp công ích. Tuy vậy, có thể nói, phần lớn các doanh nghiệp nhà nước cho đến nay vẫn chưa thực sự là công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần với đầy đủ những thuộc tính của chúng.

QUY ĐỊNH CỦA LUẬT DOANH NGHIỆP 2005

Trình bày trên đây cho thấy trong giai đoạn trước tháng 07 /2006 , khái niệm “doanh nghiệp” được định nghĩa khác nhau trong các văn bản pháp luật khác nhau, và được áp dụng phân biệt theo thành phần kinh tế. Trong khi doanh nghiệp do tư nhân trong nước sở hữu lấy mục tiêu sinh lợi làm tiêu chí đặc trưng hàng đầu, doanh nghiệp trong khu vực kinh tế nước ngoài và khu vực kinh tế nhà nước chủ yếu dựa vào tiêu chí sở hữu. Thậm chí, lợi nhuận không được coi là mục tiêu chủ yếu của DNNN.

Về loại hình doanh nghiệp, khu vực kinh tế tư nhân trong nước được lụa chọn cả bốn loại là đặc trưng phổ biến trong kinh tế thị trường; còn khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chỉ có duy nhất công ty trách nhiệm hữu hạn. Loại hình doanh nghiệp trong khu vực kinh tế nhà nước nhìn chung không tương thích với các loại hình doanh nghiệp của kinh tế thị trường. Sau năm 2003, doanh nghiệp nhà nước mới bắt đầu sử dụng loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần.

Bản chất và nội dung của cùng một loại hình doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác nhau là không giống nhau. Ví dụ, việc các bên hay các thành viên phải chịu rủi ro tương ứng với tỷ lệ góp vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là khá xa lạ với đặc điểm của công ty trách nhiệm hữu hạn nói chung và công ty trách nhiệm hữu hạn của khu vực kinh tế tư nhân trong nước nói riêng. Các loại hình khác của DNNN như tổng công ty nhà nước, công ty nhà nước độc lập…không được định nghĩa rõ về bản chất và các dấu hiệu pháp lý đặc trưng.

Nói tóm lại, trước tháng 07 /2006, khái niệm “doanh nghiệp” được phân biệt theo thành phần kinh tế; và doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau thì không giống nhau về bản chất, về loại hình và nội dung của từng loại hình. Chỉ riêng bản chất và loại hình doanh nghiệp của khu vực kinh tế tư nhân trong nước về cơ bản là có bước phát triển vượt trội so với các thành phần kinh tế khác.

Vào những năm 2005 – 2006, áp lực và yêu cầu gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO ngày càng gia tăng; và việc gia nhập WTO cũng đã ngày càng trở nên bức thiết. Một khuôn khổ pháp lý thống nhất về đầu tư và thương mại, bình đẳng, không phân biệt đối xử và phù hợp với các nguyên tắc thương mại quốc tế là một trong những điều kiện không thể thiếu để nước ta có thể gia nhập WTO. Vì vậy, hàng loạt luật có liên quan đã phải được ban hành mới hoặc bổ sung, sửa đổi; trong số đó có các luật về đầu tư và doanh nghiệp. LDN 2005 đã ra đời trong hoàn cảnh đó. Nó có hiệu lực từ ngày 01/07/2006; thay thế LDN 2000, cùng với nó là Luật DNNN năm 2003 và các quy định về doanh nghiệp của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Như vậy, từ tháng 07/2006, lần đầu tiên chúng ta có một luật doanh nghiệp duy nhất, áp dụng thống nhất và không phân biệt đối xử đối với tất cả các doanh nghiệp, không phân biệt tính chất sở hữu; người trong nước và người nước ngoài có quyền tự chủ lựa chọn bất kỳ loại hình nào trong bốn loại hình doanh nghiệp do luật quy định: doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần. Cũng từ thời điểm đó, xét về mặt pháp lý, không còn hiện tượng “ đồng sàng, dị mộng” khi nói và viết về doanh nghiệp. Khái niệm “doanh nghiệp”, bản chất và thuộc tính của các loại hình doanh nghiệp đã được quy định, được hiểu và áp dụng một cách thống nhất. Cụ thể, “doanh nghiệp” được xác định là “tổ chức kinh tế, có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”.

(*) “Doanh nghiệp tư nhân” là doanh nghiệp: (i) do một cá nhân làm chủ sở hữu và cá nhân chủ sở hữu đó chỉ được làm chủ sở hữu một DNTN; không được đồng thời làm chủ sở hữu của DNTN khác hoặc chủ sở hữu hộ kinh doanh và thành viên hợp danh công ty danh; (ii) cá nhân chủ sở hữu tự quyết định cơ cấu tổ chức và đích thân trực tiếp quản lý, thực hiện các hoạt động kinh doanh và là người đại diện theo luật của doanh nghiệp; (iii) cá nhân chủ sở hữu chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và (iv) doanh nghiệp tư nhân không phải là pháp nhân.

(**) “ Công ty hợp danh” là doanh nghiệp: (i) có ít nhất hai thành viên là cá nhân, trong đó phải có ít nhất một thành viên hợp danh; ngoài thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn; thành viên hợp danh phải là cá nhân, còn thành viên góp vốn có thể là cá nhân, tổ chức; (ii) thành viên hợp danh chịu trách nhiệm liên đới và vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ và nghĩa vụ khác của doanh nghiệp; còn thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi giá trị số vốn góp vào công ty; thành viên hợp danh quyền quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh của công ty; còn thành viên góp vốn không có quyền quản lý công ty; trường hợp thành viên góp vốn tham gia quản lý, điều hành công ty, thành viên đó đương nhiên được coi là thành viên hợp danh; (iii) công ty hợp danh có tư cách pháp nhân; và (iv) không được phát hành chứng khoán.

Như vậy, tương tự như LDN 2000, công ty hợp danh quy định tại LDN 2005 có thể tồn tại dưới hai hình thức. Một là, tất cả thành viên đều là thành viên hợp danh (không có thành viên góp vốn); trong trường hợp này, công ty là một công ty hợp danh thông thường tương tự như ở các nước khác. Hai là, có cả thành viên hợp danh và thành viên góp vốn; vậy nó là công ty hợp danh hữu hạn tương tự như quy định của pháp luật ở các nước khác. Tóm lại, công ty hợp danh theo quy định tại LDN 2005 có thể hợp danh thông thường hoặc hợp danh hữu hạn

Theo quy định của LDN 2005, công ty TNHH được chia thành hai loại căn cứ vào số lượng thành viên: (i) công ty TNHH một thành viên và (ii) công ty TNHH hai thành viên trở lên*. Sự khác biệt cơ bản giữa hai loại này nằm ở cơ cấu tổ chức quản lý hay cách thực hiện quyền chủ sở hữu. Công ty TNHH có những đặc điểm chung như sau: (i) số lượng thành viên không quá 50; (ii) trách nhiệm của các thành viên giới hạn trong phạm vi số vốn cam kết góp vào công ty; (iii) phần vốn góp được chuyển nhượng được; nhưng có điều kiện; (iv) công ty là một pháp nhân độc lập và tách biệt về trách nhiệm với các thành viên và (v) không được phát hành chứng khoán.

Tương tự như đối với các doanh nghiệp của tư nhân trong nước, việc thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã được đơn giản hóa hơn nhiều so vói trước; và người nước ngoài cũng được quyền bỏ vốn thành lập doanh nghiệp kinh doanh tất cả các ngành , nghề mà pháp luật không cấm. Tỷ lệ sở hữu của người nước ngoài trong các doanh nghiệp về cơ bản không bị hạn chế trừ các trường hợp sau đây:

(i)       Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại các công ty niêm yết thực hiện theo quy định của pháp luật về chứng khoán;

(ii)       Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong các trường hợp đặc thù áp dụng quy định của các luật* nói tại khoản 3 điều 3 Nghị định số 139/2007/NĐ-CP và các quy định pháp luật chuyên ngành khác có liên quan;

(iii)     Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước cổ phần hóa hoặc chuyển đổi sở hữu theo hình thức khác thực hiện theo pháp luật về cổ phần hóa và chuyển đổi doanh nghiệp 100% vốn nhà nước;

(iv)     Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ áp dụng theo Biểu cam kết cụ thể về thương mại dịch vụ (Phụ lục Nghị định thư gia nhập WTO của Việt Nam).

LDN 2005 đã xác định thời hạn bốn năm, kể từ khi Luật có hiệu lực, để DNNN chuyển đổi thành TNHH hay CTCP để tổ chức quản lý và hoạt động theo quy định tương ứng.

Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã được thành lập trước ngày 01/07/2006 có quyền thực hiện theo một trong hai cách. Một là, chuyển đổi và đăng ký lại* thành CTCP hay TNHH để tổ chức quản lý và hoạt động theo quy định tương ứng của luật; và thời hạn chuyển đổi và lại là hai năm, kể từ ngày 01/07/2006. Hai là, không đăng ký lại; trong trường hợp này, doanh nghiệp chỉ được quyền hoạt động kinh doanh trong phạm vi ngành, nghề và thời hạn ghi trong giấy phép đầu tư; không được mở rộng phạm vi kinh doanh sang các ngành, nghề khác; việc tổ chức quản lý nội bộ và hoạt động của doanh nghiệp được thực hiện trước hết theo Điều lệ của doanh nghiệp; đối với các nội dung mà Điều lệ không quy định thì áp dụng các quy định tương ứng của LDN**. Cho đến nay, sau hơn hai năm LDN có hiệu lực, số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển đổi và đăng ký lại để hoạt động là không đáng kể.

Như vậy, sau gần 20 năm phát triển và hoàn thiện, khái niệm “doanh nghiệp” ở nước ta đã không còn phân chia và phân biệt theo thành phần kinh tế. Cũng như doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác, DNNN coi lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu; là dấu hiệu đặc trưng để phân biết với các tổ chức kinh tế khác không phải là doanh nghiệp. Bản chất và nội dung của khái niệm doanh nghiệp đã tương thích với khái niệm tương tự được sử dụng phổ biến trong tất cả các nền kinh tế thị trường.

Xem tất cả
HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN



Trang chủ   |   Giới thiệu   |   Dịch vụ   |   Hướng dẫn   |   Tin tức   |   Khách hàng   |   Kiến thức   |   Nhân chứng&Sự kiện   |   Việt Nam-Quê hương tôi   |   Giải trí   |   Hộp thư khách hàng   |   Liên hệ   

 

 

   @Bản quyền 2011 thuộc về Công ty TNHH Tư vấn & Đầu tư PACIFIC
Địa chỉ: 11G1 Cư xá Ngân Hàng, đường Lâm Văn Bền, P. Tân Thuận Tây, Quận 7,
TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam.
Điện thoại: +84-8.3.8725260       Fax:+84-8.3.8725.261     Hotline: 0903.904.971
Email:    
contact@pacific.net.vn - congduc@pacific.net.vn
 

 

Thiết kế web và hỗ trợ kỹ thuật: Highland Soft